Văn học Ấn Độ cổ đại là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của nền văn minh này, phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, tư tưởng triết học và tín ngưỡng của người dân Ấn Độ qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây là một nền văn học có lịch sử lâu đời, phong phú và có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ trong phạm vi Ấn Độ mà còn đối với nhiều quốc gia ở châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á.
Tác phẩm Kinh Vêđa. Nguồn: Internet
Vêđa vốn nghĩa là hiểu biết. Vêđa có 4 tập là Rích Vêđa, Xamia Vêđa, Yagiua Vêđa và Atacva Vêđa. Ba tập Vêđa trên gồm những bài ca và những bài cầu nguyện phản ánh tình hình người Arya tràn vào Ấn Độ, tình hình tan rã của chế độ thị tộc, tình hình cư dân đấu tranh với thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt. Trong đó Rich Vêđa với 1028 bài thơ là tập quan trọng nhất. Còn Atacva Vêđa chủ yếu bao gồm các bài chú, những nội dung mà tập Vêđa này đề cập đến gồm các mặt như chế độ đẳng cấp, việc hành quân, chữa bệnh, đánh bạc và cả tình yêu nữa.
Kế tiếp theo 4 tập Vêđa và có liên quan với Vêđa còn có các tác phẩm Bramana, Araniaca, Ypanisat,… Những sách này đều viết bằng văn xuôi, nội dung bao gồm những bài cầu nguyện, thần chú, những nghi thức cúng bái, những bài thuyết pháp, những lời giải thích triết lí trong kinh Vêđa.
Sử thi Mahabharata. Nguồn: Internet
Bên cạnh kinh Vêđa thì Ấn Độ còn có hai bộ sử thi rất đồ sộ là Mahabharata và Ramayana. Hai bộ sử thi này được truyền miệng từ nửa đầu thiên niên kỷ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ, đến các thế kỷ đầu Công nguyên thì được dịch ra tiếng Xanxcrit.
Sử thi Mahabharata có 18 chương và 1 chương bổ sung tài liêu gồm 220.000 câu. Đây là bộ sử thi dài nhất thế giới, so với cả hai bộ Iliat và Ôđixê của Hy Lạp cổ đại gộp lại còn dài hơn 8 lần. Tương truyền rằng người soạn lại bộ sử thi này là Viasa. Chủ đề của tác phẩm này là cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng họ đế vương ở miền Bắc Ấn Độ. Bởi vậy tập thơ lấy tên là Mahabharata nghĩa là “Cuộc chiến tranh giữa con cháu Bharata”.
Xoáy vào cốt truyện đó, bộ sử thi này đã miêu tả rất nhiều cảnh khác nhau với những chi tiết li kỳ như cảnh ăn chơi xa hoa ở chốn cung đình, những cuộc tình duyên éo le nhưng chung thuỷ, nhiều cảnh sinh hoạt trong xã hội lúc bấy giờ và đậm nét nhất là cảnh chiến đấu anh dũng nhưng vô cùng thảm khốc. Hơn nữa, cùng với thời gian, những câu chuyện như vậy không ngừng được bổ sung vào làm cho tác phẩm càng thêm phong phú.
Sử thi Ramayana có 7 chương, trong đó chương I và chương VII về sau mới thêm vào, gồm 48.000 câu. Tương truyền tác giả là Vanmiki. Chủ đề của tác phẩm này là câu chuyện tình duyên giữa hoàng tử Rama và người vợ chung thuỷ Sita.
Hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana là những công trình sáng tác của nhân dân Ấn Độ trong hai ngàn năm nay. Cho đến nay, các nhà văn, nghệ sĩ Ấn Độ thuộc nghành thơ, kịch, hoa, điêu khắc,…vẫn tìm được ở trong hai tác phẩm vĩ đại ấy nhiều đề tài và cảm hứng để sáng tác.
Ngoài văn học tiếng Xanxcrit, còn có nhiều tác phẩm viết bằng các thứ ngôn ngữ khác, trong đó trước hết cần phải kể đến những tác phẩm viết bằng tiếng Pali về chủ đề Phật giáo.
Vở kịch Shakuntalaa. Nguồn: Internet
Kalidasa là nhà thơ và là nhà soạn kịch lớn nhất thời Gupta (thế kỷ V). Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là vở kịch Shakuntalaa.
Vở kịch Shakuntalaa phỏng theo một câu chuyện dân gian chép trong sử thi Mahabharata, nhưng đã được tác giả cải biên và thêm nhiều tình tiết. Nội dung của vở kịch miêu tả câu chuyện tình duyên giữa nàng Shakuntalaa và vua Dushyanta, trải qua nhiều éo le, trắc trở, cuối cùng hai người được đoàn tụ và hưởng hạnh phúc đời đời.
Tuy là nhà soạn kịch cung đình, lại chịu ảnh hưởng của đạo Bàlamôn, nhưng Kalidasa đã thể hiện trong tác phẩm của mình tư tưởng tự do, chống lại lễ giáo khắt khe, lên án bản chất giả dối, lừa gạt, không chung thuỷ của giai cấp thống trị, và trên chừng mực nhất định đã chống quan niệm về đẳng cấp.
Shakuntalaa và Kalidasa là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ. Suốt 15 thế kỉ nay, Shakuntalaa đã trở thành nguồn cảm hứng, nguồn đè tài của nhiều nghành nghệ thuật khác nhau của Ấn Độ như kịch, điện ảnh, hoạ, nhạc, vũ,… Không những ở Ấn Độ mà đối với thế giới, tác phẩm này cũng có một tiếng vang rất lớn.
Ngày nay, Kalidasa được xếp vào loại các nhà văn lớn của thế giới và năm 1957 ông đã được Hội đồng hoà bình thế giới tổ chức kỷ niệm.
Tập thơ Gitanjali. Nguồn: Internet
Từ cuối thế kỷ X về sau, ngoài văn học tiếng Xanxcrít đã xuất hiện nhiều tác phẩm văn học viết bằng các loại phương ngữ khác nhau.
Vào thế kỷ XIII, nhà thơ Tichcala đã dịch 15 chương trong bộ sử thi Mahabharata ra tiếng Têlugu, làm cho nền văn học cổ điển càng được phổ cập rộng rãi.
Đến thế kỷ XVI, XVII, dưới triều Môgôn, có một số nhà thơ đã sáng tác bằng tiếng Ba Tư. Tuy nhiên, phong phú nhất vẫn là nền văn học bằng tiếng Inđi và các loại ngôn ngữ địa phương khác. Thiên trường ca Ramayana do Tunxi Đát viết bằng tiếng Inđi là một tác phẩm nổi tiếng được nhân dân rất ưa thích.
Tập thơ Gitanjali của nhà thơ mù Rabindranath Tagore viết bằng một loại phương ngữ khác trong tiếng Inđi mà chủ đề chính là chủ nghĩa anh hùng và tình yêu cũng là một tác phẩm có giá trị. Những bài ca du dương, gợi cảm ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Ấn Độ của ca sĩ kiêm nhà thơ Tanxen cũng rất nổi tiếng. Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có nhiều nhà thơ khác.
Đặc trưng chung của nền thi ca giai đoạn này là dùng ngon ngữ dân gian chứ không dùng ngôn ngữ cung đình, sử dụng nhiều chất liệu trong văn học dân gian, phản ánh tâm tư nguyện vọng của quàn chúng nên được nhân dân rất yêu thích.
Văn học Ấn Độ cổ đại là một kho tàng di sản văn hóa vô giá của nhân loại. Với các bộ kinh Veda, những tác phẩm triết học sâu sắc, các bộ sử thi đồ sộ và những tác phẩm thơ ca, kịch nghệ xuất sắc, văn học Ấn Độ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền văn minh thế giới. Giá trị của những tác phẩm này vẫn được bảo tồn và nghiên cứu cho đến ngày nay, khẳng định vị trí đặc biệt của văn minh Ấn Độ trong lịch sử nhân loại.
Một số nội dung khác tại BlogAnChoi:
Thành tựu văn học và nghệ thuật ở Châu Âu thế kỉ XVIII-XIX
Văn học Hi Lạp – La Mã cổ đại
1. Kinh Vêđa
Tác phẩm Kinh Vêđa. Nguồn: Internet
Vêđa vốn nghĩa là hiểu biết. Vêđa có 4 tập là Rích Vêđa, Xamia Vêđa, Yagiua Vêđa và Atacva Vêđa. Ba tập Vêđa trên gồm những bài ca và những bài cầu nguyện phản ánh tình hình người Arya tràn vào Ấn Độ, tình hình tan rã của chế độ thị tộc, tình hình cư dân đấu tranh với thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt. Trong đó Rich Vêđa với 1028 bài thơ là tập quan trọng nhất. Còn Atacva Vêđa chủ yếu bao gồm các bài chú, những nội dung mà tập Vêđa này đề cập đến gồm các mặt như chế độ đẳng cấp, việc hành quân, chữa bệnh, đánh bạc và cả tình yêu nữa.
Kế tiếp theo 4 tập Vêđa và có liên quan với Vêđa còn có các tác phẩm Bramana, Araniaca, Ypanisat,… Những sách này đều viết bằng văn xuôi, nội dung bao gồm những bài cầu nguyện, thần chú, những nghi thức cúng bái, những bài thuyết pháp, những lời giải thích triết lí trong kinh Vêđa.
2. Sử thi
Sử thi Mahabharata. Nguồn: Internet
Bên cạnh kinh Vêđa thì Ấn Độ còn có hai bộ sử thi rất đồ sộ là Mahabharata và Ramayana. Hai bộ sử thi này được truyền miệng từ nửa đầu thiên niên kỷ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ, đến các thế kỷ đầu Công nguyên thì được dịch ra tiếng Xanxcrit.
Sử thi Mahabharata có 18 chương và 1 chương bổ sung tài liêu gồm 220.000 câu. Đây là bộ sử thi dài nhất thế giới, so với cả hai bộ Iliat và Ôđixê của Hy Lạp cổ đại gộp lại còn dài hơn 8 lần. Tương truyền rằng người soạn lại bộ sử thi này là Viasa. Chủ đề của tác phẩm này là cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng họ đế vương ở miền Bắc Ấn Độ. Bởi vậy tập thơ lấy tên là Mahabharata nghĩa là “Cuộc chiến tranh giữa con cháu Bharata”.
Xoáy vào cốt truyện đó, bộ sử thi này đã miêu tả rất nhiều cảnh khác nhau với những chi tiết li kỳ như cảnh ăn chơi xa hoa ở chốn cung đình, những cuộc tình duyên éo le nhưng chung thuỷ, nhiều cảnh sinh hoạt trong xã hội lúc bấy giờ và đậm nét nhất là cảnh chiến đấu anh dũng nhưng vô cùng thảm khốc. Hơn nữa, cùng với thời gian, những câu chuyện như vậy không ngừng được bổ sung vào làm cho tác phẩm càng thêm phong phú.
Sử thi Ramayana có 7 chương, trong đó chương I và chương VII về sau mới thêm vào, gồm 48.000 câu. Tương truyền tác giả là Vanmiki. Chủ đề của tác phẩm này là câu chuyện tình duyên giữa hoàng tử Rama và người vợ chung thuỷ Sita.
Hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana là những công trình sáng tác của nhân dân Ấn Độ trong hai ngàn năm nay. Cho đến nay, các nhà văn, nghệ sĩ Ấn Độ thuộc nghành thơ, kịch, hoa, điêu khắc,…vẫn tìm được ở trong hai tác phẩm vĩ đại ấy nhiều đề tài và cảm hứng để sáng tác.
Ngoài văn học tiếng Xanxcrit, còn có nhiều tác phẩm viết bằng các thứ ngôn ngữ khác, trong đó trước hết cần phải kể đến những tác phẩm viết bằng tiếng Pali về chủ đề Phật giáo.
3. Những tác phẩm của Kalidasa
Vở kịch Shakuntalaa. Nguồn: Internet
Kalidasa là nhà thơ và là nhà soạn kịch lớn nhất thời Gupta (thế kỷ V). Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là vở kịch Shakuntalaa.
Vở kịch Shakuntalaa phỏng theo một câu chuyện dân gian chép trong sử thi Mahabharata, nhưng đã được tác giả cải biên và thêm nhiều tình tiết. Nội dung của vở kịch miêu tả câu chuyện tình duyên giữa nàng Shakuntalaa và vua Dushyanta, trải qua nhiều éo le, trắc trở, cuối cùng hai người được đoàn tụ và hưởng hạnh phúc đời đời.
Tuy là nhà soạn kịch cung đình, lại chịu ảnh hưởng của đạo Bàlamôn, nhưng Kalidasa đã thể hiện trong tác phẩm của mình tư tưởng tự do, chống lại lễ giáo khắt khe, lên án bản chất giả dối, lừa gạt, không chung thuỷ của giai cấp thống trị, và trên chừng mực nhất định đã chống quan niệm về đẳng cấp.
Shakuntalaa và Kalidasa là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ. Suốt 15 thế kỉ nay, Shakuntalaa đã trở thành nguồn cảm hứng, nguồn đè tài của nhiều nghành nghệ thuật khác nhau của Ấn Độ như kịch, điện ảnh, hoạ, nhạc, vũ,… Không những ở Ấn Độ mà đối với thế giới, tác phẩm này cũng có một tiếng vang rất lớn.
Ngày nay, Kalidasa được xếp vào loại các nhà văn lớn của thế giới và năm 1957 ông đã được Hội đồng hoà bình thế giới tổ chức kỷ niệm.
4. Các tác phẩm văn học viết bằng các phương ngữ
Tập thơ Gitanjali. Nguồn: Internet
Từ cuối thế kỷ X về sau, ngoài văn học tiếng Xanxcrít đã xuất hiện nhiều tác phẩm văn học viết bằng các loại phương ngữ khác nhau.
Vào thế kỷ XIII, nhà thơ Tichcala đã dịch 15 chương trong bộ sử thi Mahabharata ra tiếng Têlugu, làm cho nền văn học cổ điển càng được phổ cập rộng rãi.
Đến thế kỷ XVI, XVII, dưới triều Môgôn, có một số nhà thơ đã sáng tác bằng tiếng Ba Tư. Tuy nhiên, phong phú nhất vẫn là nền văn học bằng tiếng Inđi và các loại ngôn ngữ địa phương khác. Thiên trường ca Ramayana do Tunxi Đát viết bằng tiếng Inđi là một tác phẩm nổi tiếng được nhân dân rất ưa thích.
Tập thơ Gitanjali của nhà thơ mù Rabindranath Tagore viết bằng một loại phương ngữ khác trong tiếng Inđi mà chủ đề chính là chủ nghĩa anh hùng và tình yêu cũng là một tác phẩm có giá trị. Những bài ca du dương, gợi cảm ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Ấn Độ của ca sĩ kiêm nhà thơ Tanxen cũng rất nổi tiếng. Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có nhiều nhà thơ khác.
Đặc trưng chung của nền thi ca giai đoạn này là dùng ngon ngữ dân gian chứ không dùng ngôn ngữ cung đình, sử dụng nhiều chất liệu trong văn học dân gian, phản ánh tâm tư nguyện vọng của quàn chúng nên được nhân dân rất yêu thích.
Văn học Ấn Độ cổ đại là một kho tàng di sản văn hóa vô giá của nhân loại. Với các bộ kinh Veda, những tác phẩm triết học sâu sắc, các bộ sử thi đồ sộ và những tác phẩm thơ ca, kịch nghệ xuất sắc, văn học Ấn Độ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền văn minh thế giới. Giá trị của những tác phẩm này vẫn được bảo tồn và nghiên cứu cho đến ngày nay, khẳng định vị trí đặc biệt của văn minh Ấn Độ trong lịch sử nhân loại.
Một số nội dung khác tại BlogAnChoi:
Thành tựu văn học và nghệ thuật ở Châu Âu thế kỉ XVIII-XIX
Văn học Hi Lạp – La Mã cổ đại